Những thành tựu kinh tế - xã hội qua 20 năm đổi mới của Việt Nam(1986-2005)



Trải qua 60 năm, kể từ ngày thành lập nước năm 1945, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đất nước ta đã giành được những thành tựu rất quan trọng trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội. Đó là những thành tựu về diệt giặc dốt, diệt giặc đói trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; thành tựu về khôi phục kinh tế (1956-1957); thành tựu về cải tạo kinh tế ở miền Bắc (1958-1960); thành tựu trong việc thực hiện thành công kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), kế hoạch chuyển hướng thời chiến (1965-1975), kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1976-1980) và kế hoạch 5 năm lần thứ 3 (1976-1985). Đặc biệt, chúng ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng từ năm 1986 đến nay.

Việc thực hiện tốt ba chương trình mục tiêu phát triển về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu trong kế hoạch 5 năm 1986-2000, được coi là sự thành công bước đầu cụ thể hoá nội dung của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên đã được Đại hội thông qua.

Kết thúc thời kỳ kế hoạch 1991-1995, "Đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đã tạo được tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 8,2%.

Giai đoạn tiếp theo (1996-2000), toàn Đảng, toàn dân ta đã nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn thách thức; giữ được nhịp độ tăng trưởng cao, duy trì được sự phát triển đều đặn của các mặt văn hoá, xã hội. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của thời kỳ 1996-2000 đạt 7%; các ngành nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp và xây dựng, các ngành dịch vụ đều có bước phát triển khá.

Đại hội IX đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001-2010) với mục tiêu: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển và xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Chất lượng đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân được nâng lên một mức đáng kể. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được định hình về cơ bản. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng an ninh được tăng cường. Vị thế nước ta trong quan hệ quốc tế được củng cố và nâng cao.

Trong 5 năm đầu thực hiện chiến lược 10 năm 2001-2010; nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân gần 7,5%/năm; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể, nguồn lực phát triển trong các thành phần kinh tế đã được huy động khá hơn, nhiều lợi thế so sánh trong từng ngành, từng vùng đã được phát huy.

Những kết quả nổi trội chủ yếu đạt được trong quá trình đổi mới.

Một là, tạo lập được sự ổn định kinh tế vĩ mô:

Trong suốt quá trình đổi mới, chúng ta đã giữ vững ổn định chính trị và đời sống xã hội; thiết lập các cơ chế chính sách và ổn định kinh tế vĩ mô, huy động được nhiều nguồn lực phát triển. Các cân đối lớn trong nền kinh tế đều được cải thiện.

Hai là, cơ cấu kinh tế đã dịch chuyển theo hướng tích cực, phát huy tiềm năng của từng ngành, từng vùng, từng thành phần kinh tế

Tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng nhanh, đóng góp tích cực vào việc tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Ngành công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng trưởng nhanh. Đặc biệt ngành công nghiệp sắt thép, xi măng, khai thác dầu khí, than có bước phát triển vượt bậc. Các ngành công nghiệp chế tác chiếm đến 80% giá trị sản lượng công nghiệp. Ngành công nghiệp xây dựng đã có bước phát triển mạnh, phục vụ xây dựng công nghiệp và dân dụng (cả đô thị khi đô thị hoá tăng nhanh và xây dựng nông thôn mới).

Ngành nông lâm ngư nghiệp phát triển theo chiều sâu theo hướng chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mùa vụ; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; bảo đảm ổn định xã hội, an ninh lương thực, tạo ra nhiều sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao; đồng thời tạo việc làm và nâng cao đời sống cho nông dân; đặc biệt là ở vùng miền núi và các vùng đồng bào dân tộc.

Trong lĩnh vực dịch vụ đã có những bước phát triển mạnh, nhất là các ngành vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch, tài chính ngân hàng,… góp phần tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế.

Các vùng kinh tế đã phát huy được các lợi thế so sánh trong từng vùng, liên kết nhau cùng phát triển bền vững. Ba vùng kinh tế trọng điểm được hình thành và phát triển và đã đóng góp trên 60% GDP cả nước. Các vùng khó khăn được sự hỗ trợ của cả nước, đang từng bước vươn lên, tiếp tục có những bước phát triển khá; đời sống nhân dân có nhiều cải thiện.

Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ lệ lao động trong sản xuất thuần nông, tăng tỷ lệ lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ.

Ba là, kinh tế đối ngoại phát triển khá, vị thế của nước ta trên trường quốc tế đã được nâng cao.

Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, nước ta đã chủ động tranh thủ thời cơ, từng bước hội nhập có hiệu quả với kinh tế thế giới, bình thường hoá và mở rộng quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế, phát triển quan hệ kinh tế với hầu khắp các nước, gia nhập và có vai trò ngày càng tích cực trong nhiều tổ chức quốc tế và khu vực.

Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh. Việc thu hút các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đạt được nhiều kết quả; bổ sung tăng thêm được nguồn vốn cho đầu tư phát triển, tiếp thu chuyển giao công nghệ và phương pháp quản lý tiên tiến.

Bốn là, giáo dục đào tạo và khoa học, công nghệ có bước phát triển:

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đã có những chuyển biến tích cực trong các bậc học, các ngành học. Hệ thống giáo dục phổ thông phát triển. Công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở đang được triển khai tích cực. Đến cuối năm 2005, có 30 tỉnh thành phố được công nhận phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Chương trình, nội dung giảng dạy đã có đổi mới, chất lượng bước đầu được cải thiện.

Năm là, công tác xoá đói giảm nghèo, tăng việc làm đã đạt được những thành tựu quan trọng, được thế giới thừa nhận. Trong 5 năm 2001-2005 đã tạo việc làm cho 7,5 triệu lao động. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2004 giảm trên một nửa so với những năm đầu của thập kỷ 90.

Sáu là, các lĩnh vực văn hoá thông tin, y tế, chăm sóc người có công với cách mạng,…đều có bước tiến quan trọng. Việc xây dựng nếp sống văn hoá mới, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc kết hợp tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới đạt được nhiều kết quả.

Việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ. Công tác phòng chống bệnh dịch, phát triển và hoàn thiện mạng lưới y tế, chính sách miễn giảm viện phí cho người nghèo, cho trẻ em dưới 6 tuổi,…đã góp phần tích cực nâng cao sức khoẻ của nhân dân. Các chỉ số về sức khoẻ của người Việt Nam hiện nay đều đạt mức tốt hơn so với các nước cùng mức thu nhập theo đầu người.

Những kết quả tốt trong công tác đền ơn đáp nghĩa với người có công với cách mạng, đồng bào các dân tộc vùng thiểu số, giúp đỡ người già, người tàn tật,… thể hiện bản sắc đạo đức tốt đẹp của con người và dân tộc ta.


Nguồn: Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân